Shock phản vệ

SHOCK PHẢN VỆ (Anaphylactic shock)

Phản ứng phản vệ là sự xuất hiện đột ngột và nhanh chóng tình trạng quá mẫn của cơ thể đối với một dị nguyên, thường xuất hiện ở thanh thiếu niên và phụ nữ. Theo thống kê, trên toàn thế giới có khoảng 0.05-2% dân số bị sốc phản vệ tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời.

     I.         Thế nào là shock phản vệ

Theo Tổ chức dị ứng thế giới, Phản vệ – Anaphylaxis được định nghĩa là phản ứng dị ứng cấp tính và nguy kịch nhất có nguy cơ gây tử vong hay còn  được coi là tình trạng tăng quá mẫn xảy ra tức thì khi cơ thể tiếp xúc với một dị nguyên ở một người trước đó đã gây mẫn cảm, hậu quả là giải phóng các chất trung gian hóa học (Histamin) gây tác động tới nhiều cơ quan đích, dẫn tới nguy cơ tử vong.

Dựa theo cơ chế sinh lý bệnh, PV (Anaphylaxis) được chia thành 2 nhóm:

  • Phản vệ do dị ứng (Allergic anaphylaxis)
  • Phản vệ không do dị ứng (Non – allergic anaphylaxis)

Các mức độ của phản vệ, bao gồm:

  • Mức độ nhẹ: Các triệu chứng chỉ xuất hiện ở da và niêm mạc với các biểu hiện như: Ban đỏ, mẩn ngứa, mề đay, phù quanh mắt.
  • Mức độ trung bình: Có sự tác động lên các cơ quan đích (hô hấp, tiêu hóa, tuần hoàn,..) với các biểu hiện lâm sàng như: Khó thở, tím tái, khò khè, buồn nôn/nôn, chóng mặt, vã mồ hôi,…
  • Mức độ nặng: Đây được coi là giai đoạn sốc phản vệ (anaphylatic shock) biểu hiện với triệu chứng: giảm O2 máu, huyết áp tụt, rối loạn tri giác.

Shock phản vệ là tình trạng phản vệ có kèm tụt huyết áp, tương đương mức độ 3 trong phân loại mức độ nặng của phản ứng phản vệ. 

Nguồn: Internet

   II.         Nguyên nhân gây sốc phản vệ

Tình trạng sốc phản vệ xuất hiện khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên gây quá mẫn cho cơ thể:

  • Tiêm chích thuốc
  • Truyền máu
  • Ăn/ngửi thức ăn
  • Nọc độc côn trùng
  • Dị nguyên trong không khí (Phấn hoa) 

Nguồn: Internet

Từ lúc tiếp xúc với các dị nguyên, cơ thể sẽ bắt đầu có những dấu hiệu phản vệ trong vòng vài phút đến vài giờ với các biểu hiện như:

Toàn thân

  • Hồi hộp, đánh trống ngực
  • Lo sợ, hốt hoảng
  • Ho, hắt hơi
  • Nhức đầu, sốt, lạnh run, tê bì
  • Ngứa, nổi ban, mề đay, nóng rát da

Hô hấp

  • Ngứa, sung huyết niêm mạc mũi
  • Ho, đau ngực
  • Khó thở, thở nhanh

Tuần hoàn

  • Mạch nhanh, huyết áp tụt
  • Tức ngực, tím tái do không đủ máu đến nuôi
  • Đau thắt ngực (ít gặp), ngừng tim

Tiêu hóa

  • Buồn nôn, nôn, đau quặn bụng, tiêu chảy

Thần kinh

  • Đau đầu chóng mặt, có thể xuất hiện co giật hoặc hôn mê, tuy nhiên rất ít gặp.

 

III.          Diễn biến

Đặc trưng các triệu chứng lâm sàng của SPV bao gồm:

  • Diễn ra một cách nhanh chóng và đột ngột
  • Là tình trạng nguy kịch
  • Nếu được phát hiện và xử trí kịp thời tăng khả năng phục hồi hoàn toàn

Bệnh cảnh của bệnh nhân SPV thường có 2 trường hợp:

  • Xác định được dị nguyên
  • Không xác định được dị nguyên

Dù với bệnh cảnh lâm sàng nào thì SPV cũng theo quá trình diễn tiến như sau:

  • Phục hồi hoàn toàn và không để lại di chứng nếu được phát hiện, xử trí kịp thời và đúng cách
  • Phát hiện muộn hoặc điều trị không phù hợp làm tình trạng sốc diễn tiến nặng hơn ( Suy đa cơ quan) và có thể dẫn đến tử vong.

Các biến chứng của SPV:

  • Suy thận cấp
  • Sốc trơ
  • Tắc mạch hệ thống
  • Hội chứng suy đa phủ tạng
  • Đông máu nội mạch lan tỏa (DIC)

 

IV.         Tác dụng của adrenalin – Phác đồ xử trí

Adrenalin tiêm bắp là thuốc đầu tay trong xử trí cấp cứu và điều trị sốc phản vệ. Về cơ chế, adrenalin (Epinephrine) là một hormon được tuyến thượng thận giải phóng, có chức năng dẫn truyền thần kinh thông qua sự tác động lên các thụ thể thần kinh giao cảm gây co mạch, tăng sức co bóp của cơ tim, giãn cơ trơn ở đường hô hấp…

Bình thường, khi có cảm giác lo sợ, hoảng hốt, tức giận, lúc này nhịp tim nhanh hơn , cơ thể sẽ “đáp trả” các phản ứng này bằng cách giải phóng ra adrenalin giúp điều hòa các phản ứng diễn ra trong cơ thể.

Nguyên tắc để có thể cứu sống bệnh nhân sốc phản vệ bao gồm:

  • Phát hiện kịp thời
  • Điều trị đúng cách (Ngừng tiếp xúc với dị nguyên và sử dụng Adrenalin là thuốc đầu tay) 

Nguồn: Bệnh viện Bạch Mai

Trong trường hợp không đủ điều kiện y tế để xử trí đúng cách cho bệnh nhân, cần tiến hành theo dõi và đưa nạn nhân đến ngay cơ sở y tế trong thời gian sớm nhất.

Khi bệnh nhân không có đáp ứng, cần tiến hành khai thông đường thở để kiểm tra hoặc có thể thực hiện CPR. Đặc biệt với những bệnh nhân có tiền căn phản ứng phản vệ trước đó, có thể sử dụng Epipen (dụng cụ tiêm tự động) mà bệnh nhân có sẵn để tiêm liều epinephrine xử trí trước khi được đưa vào cấp cứu.

Lưu ý: Với phụ nữ có thai, cần đặt bệnh nhân nằm xuống, cho bệnh nhân nằm nghiêng trái nhằm hạn chế sự co bóp của tử cung khiến máu trong tuần hoàn trở ngược về tim. 

Nguồn: Internet

KẾT LUẬN:

Phản ứng phản vệ là tình trạng diễn ra cấp tính và nguy kịch, nguy cơ dẫn đến tử vong cao. Mỗi người cần lưu ý và theo dõi tình trạng dị ứng của bản thân (nếu có) để tránh tái tiếp xúc gây ra sự quá mẫn và sốc phản vệ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Chẩn đoán và xử trí phản vệ” – Hội tim mạch Việt Nam 2016
  2. “ Anaphylactic shock” – First Aid Manual
  3. “ Allergies and anaphylaxis” – Web MD

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.